27 hành vi vi phạm Luật Đất đai sẽ bị xử phạt hành chính, mức cao nhất 1 tỷ đồng

Tác giả: GoldsunLaw Đăng ngày: 07/06/2024 Lượt xem: 26 Danh mục: Tin tức pháp luật

Bộ TN&MT đang lấy ý kiến về dự thảo Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, trong đó đề xuất xử phạt hành chính 27 hành vi vi phạm Luật Đất đai.

Đây là 1 trong số 6 Nghị định được Chính phủ giao cho Bộ TN&MT chuẩn bị để quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai vừa được Quốc hội thông qua vào ngày 18-1-2024. Dự thảo Nghị định này đang được Bộ TN&MT lấy ý kiến trên cổng thông tin điện tử của bộ này trong thời gian 2 tháng (từ ngày 5-4 đến ngày 5-6).

Sẽ phạt 27 hành vi vi phạm Luật đất đai

Dự thảo có 4 chương, 42 điều, trong đó nội dung cốt lõi nằm ở chương II quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với tổ chức, cá nhân vi phạm Luật Đất đai.

Theo đó, dự thảo đã quy định cụ thể 27 hành vi vi phạm Luật Đất đai trong đó bổ sung, làm rõ hơn các hành vi vi phạm đã được quy định trong Luật.

Trong đó có nhóm hành vi sử dụng các loại đất (đất trồng lúa, các loại đất rừng, đất nông nghiệp, các loại đất khác, đất phi nông nghiệp…) vào mục đích khác không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa không đúng quy định. Sử dụng đất vào mục đích khác thuộc trường hợp phải đăng ký mà không đăng ký theo quy định; Sử dụng đất đa mục đích không đúng quy định.

Các hành vi lấn đất; chiếm đất; huỷ hoại đất; cản trở, gây khó khăn cho việc sử dụng đất của người khác.

Các hành vi liên quan đến đăng ký, chuyển nhượng đất đai như: không đăng ký đất đai; chuyển quyền, cho thuê, thế chấp bằng quyền sử dụng đất khi không đủ điều kiện theo quy định; chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong dự án bất động sản không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Luật Đất đai;

Tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp mà không có phương án sử dụng đất theo quy định tại khoản 6 Điều 45 Luật Đất đai; cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa vượt quá hạn mức theo quy định tại Điều 176 Luật Đất đai mà không thành lập tổ chức kinh tế và không có phương án sử dụng đất trồng lúa;

Nhận chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất vi phạm khoản 8 Điều 45 Luật Đất đai; chuyển quyền, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp đối với đất không thuộc trường hợp được chuyển quyền, cho thuê, thế chấp theo quy định của Luật đất đai;

Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án phát triển kinh tế – xã hội không đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 127 Luật Đất đai; người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đúng quy định;

Không nộp hồ sơ, không cung cấp, cung cấp không đầy đủ giấy tờ để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người mua, thuê mua nhà, công trình xây dựng, nhận chuyển quyền sử dụng đất tại dự án kinh doanh bất động sản;

Ngoài ra còn các hành vi khác như: Không sử dụng đất trồng cây hàng năm trong thời hạn 12 tháng liên tục, đất trồng cây lâu năm trong thời hạn 18 tháng liên tục, đất trồng rừng trong thời hạn 24 tháng liên tục; Không làm thủ tục chuyển sang thuê đất đối với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 255 Luật Đất đai;

Vi phạm quy định về quản lý chỉ giới sử dụng đất, mốc địa giới hành chính; về giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất; về cung cấp thông tin đất đai liên quan đến thanh tra, kiểm tra, thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp đất đai; vi phạm điều kiện về hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực đất đai.

Mức phạt cao nhất đến 1 tỉ đồng

Đặc biệt, dự thảo Nghị định đề xuất mức xử phạt cao nhất đến 1 tỉ đồng với hành vi lấn đất, hoặc chiếm đất với diện tích từ 1 ha trở lên tại khu vực đô thị (quy định tại Điều 16 và Điều 17 dự thảo Nghị định).
Cụ thể, trong Điều 16, dự thảo luật quy định các mức phạt đối với hành vi lấn đất với mức phạt tiền thấp nhất là 2 triệu tới 500 triệu đồng, tuỳ theo diện tích, loại đất bị lấn.

Đối với trường hợp lấn đất chưa sử dụng, đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp (trừ trường hợp quy định tại khoản 6 điều 16, dự thảo Nghị định) tại khu vực đô thị thì mức xử phạt bằng 2 lần mức xử phạt đối với loại đất tương ứng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 (điều 16, dự thảo Nghị định) và mức phạt tối đa không quá 500 triệu đồng đối với cá nhân, không quá 1 tỉ đồng đối với tổ chức.

Đồng thời các tổ chức, cá nhân vi phạm phải khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, trừ trường hợp đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử hữu tài sản gắn liền với đất hoặc thuộc trường hợp phải thu hồi đất nhưng được tạm thời sử dụng đất cho đến khi nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 139 Luật Đất đai. Cùng với đó, các tổ chức cá nhân cũng phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.

Tương tự Điều 17, dự thảo Nghị định quy định về hành vi chiếm đất, cũng đề xuất các mức xử phạt từ 3 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tuỳ theo loại đất, diện tích đất bị chiếm.

Riêng trường hợp chiếm đất chưa sử dụng, đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp (trừ trường hợp quy định tại khoản 6, điều 17, dự thảo Nghị định) tại khu vực đô thị thì mức phạt cao nhất đối với hành vi này sẽ là 1 tỉ đồng nếu diện tích đất bị chiếm từ 1 ha trở lên.

Điều 17 tại dự thảo Nghị định cũng yêu cầu tổ chức, cá nhân vi phạm phải khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, trừ trường hợp đủ điều kiện cấp sổ hoặc thuộc trường hợp phải thu hồi đất nhưng được tạm thời sử dụng đất cho đến khi nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 139 Luật Đất đai.

Buộc thực hiện tiếp các thủ tục về giao đất, cho thuê đất theo quy định đối với trường hợp đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng chưa hoàn thành các thủ tục để được bàn giao đất trên thực địa. Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.

Nguồn: Tổng hợp