Công chứng vi bằng

Tác giả: Lê Tuấn Hải Đăng ngày: 08/10/2020 Lượt xem: 27 Danh mục: Lập vi bằng

     I. Cơ sở pháp lý

  • Luật Công chứng năm 2014;
  • Nghị định 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại do Chính phủ ban hành ngày 08 tháng 01 năm 2020;

     II. Nội dung

  1. Khái niệm vi bằng

Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác.

Giá trị pháp lý của vi bằng được quy định tại khoản 2 và 3 Điều 36 Nghị định 08/2020/NĐ-CP. Theo đó, vi bằng có giá trị chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án; là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

“Điều 36. Thẩm quyền, phạm vi lập vi bằng, giá trị pháp lý của vi bằng

  1. Vi bằng không thay thế văn bản công chứng, văn bản chứng thực, văn bản hành chính khác.
  2. Vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc dân sự và hành chính theo quy định của pháp luật; là căn cứ để thực hiện giao dịch giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.”

Vi bằng chỉ ghi nhận nội dung cụ thể của sự kiện, hành vi được ghi nhận và kèm theo vi bằng có thể có hình ảnh, băng hình và các tài liệu chứng minh khác.

  1. Khái niệm công chứng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014:

“Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

  1. Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng…”

Như vậy, công chứng là hoạt động chỉ được thực hiện đối với hợp đồng và giao dịch dân sự khác bằng văn bản.

  1. Giao dịch dân sự

Theo Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“Điều 116. Giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”

Như vậy, giao dịch dân sự có đặc điểm là làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Vi bằng được lập để ghi nhận chứ không làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự nào nên vi bằng không phải giao dịch dân sự.

Do vi bằng không phải là hợp đồng hay giao dịch dân sự khác bằng văn bản nên vi bằng không thể được công chứng.